
Ca lâm sàng: Lạc nội mạc tử cung gây dính tắc ruột non.
Bệnh nhân nữ 37 tuổi, đi khám vì khoảng hơn 1 năm nay có triệu chứng đau bụng từng cơn quanh rốn lan xuống hạ vị. Cảm nhận có khối chạy từ vùng rốn xuống hạ vị, đau giảm khi trung tiện được. Đau tăng khi có kinh nguyệt
Khám lâm sàng: Sờ có khối hố chậu phải, không di động, dấu hiệu rắn bò (+)
Tiền căn : mổ nang lạc nội mạc buồng trứng trái 2 năm.
Hình ảnh CT.

Hình 1: CT có tiêm thuốc tương phản thì tĩnh mạch. A, axial: khối dính chặt của hai quai hồi tràng với nhau. B, quai hồi tràng đoạn trước dãn lớn, thành dày chứa đầy dịch.

Hình 2: Đoạn hồi tràng từ khối dính chạy dính sát thành từ cung hai bên và phần phụ phải (mũi tên đỏ), tử cung ( mũi tên vàng).

Hình 3: A, Coronal. B, Sagittal. Hai quai hồi tràng dính chặt với nhau, đoạn hồi tràng gần manh tràng thành dày đồng tâm gây hẹp lòng, đoạn còn lại dãn chứa đầy dịch (mũi tên đỏ).

Hình 4: Dịch túi cùng (mũi tên vàng) và nang buồng trứng trái xuất huyết (mũi tên đỏ).

Hình 5: hình ảnh ruột thừa đoạn gốc và đoạn đầu ruột thừa không còn thấy rõ, dính vào đám dính hồi tràng (mũi tên đỏ).
Video CT
Bắc ruột do viêm dính hồi tràng – hồi tràng, hồi tràng – phần phụ phải, hồi tràng – tử cung từ viêm nhiễm phần phụ khả năng do lạc nội mạc tử cung sâu vào 2 phần phụ, ổ bụng.

Ảnh phẫu thuật: viêm dính tắc hồi tràng nghĩ Lạc nội mạc tử cung vào ruột non (giải phẫu bệnh lạc nội mạc tử cung sâu vào vùng chậu, ruột non.
BÀN LUẬN. (Tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau)
Tắc ruột [1]
1. Định nghĩa:
Tắc ruột: là sự ngưng trệ lưu thông trong lòng ruột. Các chất trong lòng ruột như hơi, dịch đồ ăn, phân không di chuyển được từ trên xuống dưới để tống qua hậu môn ra ngoài.
Bán tắc ruột: bao gồm các nguyên nhân gây hẹp lòng ruột nhưng không gây tắc hoàn toàn. Sự lưu thông trong lòng ruột vẫn còn nhưng khó khăn.
2.Sinh lý bệnh của tắc ruột
a, Rối loạn tại chỗ
Các chất không lưu thông, ứ trệ làm dãn dần ra đoạn ruột trên chỗ tắc. Trong tắc ruột do nghẹt, thành ruột bị thiếu máu chỉ sau vài giờ các tổn thương thành ruột diễn tiết rất nhanh đến hoại tử ruột.
b, Rối loạn toàn thân.
Nôn làm người bệnh mất nước và điện giải. Với một người nặng 50 kg, lượng dịch tiêu hóa tiết ra 7 – 8 lít và được hấp thụ chỉ còn lại trong phân 100 – 200 ml
Sơ đồ sinh lý bệnh

A. Tắc ruột do dính
1. Tổng quan
Tắc ruột do dây chằng và dính là nguyên nhân thường gặp sau phẫu thuật ổ bụng, chiếm 70 – 80%[1].
Dính bẩm sinh chiếm khoảng 4.7% , dính không có tiền căn phẫu thuật hoặc viêm nhiễm ổ bụng khoảng 2.3%. 93% dính do phẫu thuật chấn thương phúc mạc [22].
Vị trí dính: dính giữa các quai ruột non hoặc ruôt non với vị trí phẫu thuật 84%.
Phân loại mức độ dính [22]:
2. Tắc ruột do dính sau phẫu thuật ổ bụng.
Chiếm trên 80% của tắc ruột do dính, nguyên nhân do dây chằng và dính, chủ yếu là dính ruột non [1].
2.1. Nguyên nhân [6]
2.2. Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của tạo dính trong phúc mạc hiện còn nhiều tranh cãi. Khi phúc mạc bị tổn thương, phản ứng viêm được kích hoạt sẽ phóng thích fibrinogen từ máu và mô. Fibrinogen này phản ứng với thrombin tạo ra fibrin monomers. Dưới sự xúc tác của yếu tố XIIIa những fibrin monomers này trở nên không bị hòa tan phân hủy. Các phản ứng xa hơn với các đại phân tử protein tạo ra hệ lưới fibrin dạng gel. Quá trình này xảy ra nhanh, không quá 3h. Sự kết hợp mạng lưới fibrin dạng gel này với chất nhầy trắng bề mặt tổn thương của phúc mạc xảy ra ở ngày thứ 5 sau phẫu thuật. Kết quả là sự dính được tạo thành [22].
Sự cân bằng quá trình tạo fibrin và ly giải fibrin quyết định đến sự dính có được tạo thành hay không.
Sự hoạt hóa plasminogen ( tPA) bị kìm hãm bởi yếu tố ức chế hoạt hóa plasminogen I và II (plasminogen activator inhibitors -1, 2, PAI I và PAI II). Sự tổng hơp PAI I và PAI II xảy ra khi chấn thương hoặc nhiễm trùng. Plasmin là thành phần quan trọng của quá trình ly giải fibrin. Sự cân bằng giữa ly giải và tạo thành fibrin do số lượng plasmin quyết định [22].
Sau các phẫu thuật vùng bụng, sự cân bằng này bị phá vỡ, quá trình ly giải fibrin giảm. Khi đó fibrin sẽ tạo nên một mạng lưới cho sự phát triển của các mô giàu fibrin-collagen. Các nguyên bào sợi xâm nhập vào lưới fibrin, tạo ra các lưới ngoại bào. các tổ chức dính sẽ hình thành [6].

Cơ chế hình thành dính (Swank. D. J [22] )
3. Các dấu hiệu CT trong tắc ruột do dính
3.1. Dấu hiệu tắc ruột do dính
3.1.1. Dấu hiệu khe mỡ (Fat notch sign): Tại điểm chuyển tiếp, thành ruột gập góc do sợi dây dính (không thấy trên CT) tạo một khe giảm đậm độ (mỡ mạc treo). Chẩn đoán tắc ruột do dây dính độ nhạy 61% và độ đặc hiệu 100% [7].

Hình 6: Dấu khe mỡ (fat notch sign) trong tắc ruột do dây dính.
(Hình A từ Patrice Taourel. [7]. Hình B Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13]).
3.1.2. Dấu mỏ chim (beak sign): tại điểm chuyển tiếp dấu mỏ chim tương ứng với điểm thành ruột bị siết lại. Gợi ý nguyên nhân do dây dính rất cao, và có thể có trong xoắn ruột non [7].

Hình 7: dấu mỏ chim (beak sign) trong tắc ruột do dây dính.
(Hình A: từ Patrice Taourel. [7]. Hình B: ca bệnh của tác giả)
3.1.3. Dấu hiệu phân trong ruột non (small bowel feces sign): Gợi ý tắc ruột do dính và thời gian tắc ruột hơn là để đánh giá mức độ tắc ruột [7].

Hình 8: dấu hiệu phân trong ruột non trong tắc ruột (hình A), trong tắc ruột do dính (hình B).
(Hình A từ Patrice Taourel [7]. Hình B Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])
3.2. Các dấu hiệu gợi ý dính khác
3.2.1. Các dấu hiệu tại ruột

Hình 9: quai ruột gặp góc đột ngột trong dính ruột. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])

Hình 10: Ruột tụ tập thành đám sát vào nhau. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])

Hình 11: Hình A, Ruột non dính vào thành bàng quang. Hình B, ruột non dính vào thành trên tử cung. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])

Hình 12: A, các quai ruột dính sát thành bụng trước, xóa lớp mỡ mặt sau cơ thẳng bung (mũi tên đỏ). B, sau 2 năm không thay đổi vị trí. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])
3.2.2. Dấu hiệu tại mạc treo

Hình 13: Tăng đậm độ khu trú mỡ mạc treo, so sánh với bên bình thường. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13])

Hình 14: Mạch máu mạc treo thấy rõ do bị sung huyết. Đoạn ruột bị bị dính ở phía dưới. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13]).
3.2.3. Dấu hiệu ở phúc mạc

Hình 15: Bệnh nhân thẩm phân phúc mạc. Phúc mạc thành dày xơ cứng, giống như màng bọc cứng các quai ruột. Vôi mạc treo. (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13]).

Hình 16: Các quai ruột non dãn chứa đầy dịch, dính sát với nhau ở vùng tiểu khung (mũi tên xanh), thành phục mạc dày bọc quanh giống một cái kén (mũi tên đỏ). (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13]).

Hình 17: Mất lớp mỡ bao cơ thành bụng và phúc mạc, ruột non dính sâu vào thành bụng trước (mũi tên đỏ). (Dheeraj Reddy Gopireddy et al [13]).
3.2.4. Tắc ruột non do dính từ lạc nội mạc tử cung
Lạc nội mạc tử cung chiếm 10% và chủ yếu là vùng chậu, ngoài vùng chậu ít gặp hơn [16].

Các vị trí lạc nội mạc tử cung. (Pietro Valerio Foti et al. [19])
Lạc nội mạc vào ruột non rất hiếm gặp dưới 1% [16]. Thường lạc ở lớp thanh mạc ruột non, viêm chảy máu tạo sợi dính fibrin nhiều. Một số trường hợp lạc nội mạc sâu vào lớp cơ, gây dày thành hẹp lòng ruột.

Hình 18: coronal CT ở bệnh nhân nữ 46 tuổi, đau bụng nôn ói 2 ngày. Cho thấy tắc ruột non với điểm chuyển tiếp và dấu phân trong đoạn xa hồi tràng. (Daniel L. Chan et al [16])

Hình 19: Bệnh nhân trên được phẫu thuật, điểm tắc hẹp cách góc hồi manh tràng 20 cm. A, lạc nội mạc vào đoạn xa hồi tràng. B, lạc nội mạc vào vùng chậu. (Daniel L. Chan et al [16])
4. Tóm lại

Chung Gia Viễn (tổng hợp từ các nguồn sách báo)
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
Tiếng Anh